Hãy chọn Truy cập mobile | Tiếp tục

Nét Đẹp Việt Nam

 Quên mật khẩu
 Register
Xem: 8015|Trả lời: 2

Ca dao

[Lấy địa chỉ]
Đăng lúc 2-9-2009 22:25:03 | Xem tất |Chế độ đọc
Ca dao



Nói về ca dao là nói về thơ lục bát. 95 phần trăm ca dao đều làm bằng thơ lục bát. Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là dôi tay ôm chặt lấy. Gắn bó. Thơ lục bát rất dễ và rất khó làm. Người làm thơ lục bát hay thì đó là thơ lục bát. Người làm thơ lục bát dở thì đó là vè. Lục bát dễ biến thành vè lắm. Tôi đã nói Nguyễn Du đẩy thơ lục bát đến chỗ cao sang. Tôi nói thêm, Huy Cận đã đưa thơ lục bát vào cổ kính. Hai người làm thơ lục bát hay nhất. Sau hai người tài tử, chưa một thi sĩ nào làm thơ lục bát khiến ta khâm phục. Chúng ta đem Truyện Kiều ra so sánh với Lục Vân Tiên. Thấy ngay cái cao sang của Nguyễn Du và chất vè của Nguyễn đình Chiểu. Ca dao khác hẳn, chỉ là lục bát, không bao giờ là vè cả. Vì ca dao ngắn, 2 câu đến 10 câu là dài.

Qua đình ngả nón trông đình
Ðình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu.
(Hai câu)
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Ðể anh trấn thủ nước non Cao Bằng
(Bốn câu)
Ba cô đội gạo lên chùa
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư
Cô về, sư ốm tuơng tư
Ốm lăn ốm lóc để sư trọc đầu
Muốn ăn đậu phụ tương dầu
Mài dao đánh kéo gọt đầu đi tu
(Sáu câu)
Văn chương phú lục chẳng hay
Trrở về làng cũ học cầy cho xong
Sáng ngày vác cuốc chăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sồng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm
Hết thóc ta lại mang tiền đi đong
Nữa mai luá tốt đầy đồng
Gặt về đập xẩy bõ công cấy cầy.
(Tám câu)
Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc tháng ba hôị hè
Tháng tư đong đậu nấu chè
Ăn Tết Ðoan Ngọ trở về tháng năm
Tháng sáu buôn nhãn bán trăm
Tháng bẩy ngày rằm xá tội vong nhân
Tháng tám chơi đèn kéo quân
Bước sang tháng chín chung chân buôn hồng
Tháng mười buôn bấc bán bông
Tháng một tháng chạp nên công hoàn toàn
(Mười câu)


Ca dao nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tự của nó ôm gọn dân tộc trong lòng. Từ tình yêu, nỗi khổ cực, niềm lo lắng đến giáo dục về sự thật thà, chế nhạo tật xấu, bài xích nhẹ nhàng kẻ ác, khôi hài thống trị..., đều có trong ca dao. Nó là Việt Nam đôn hậu, chất phác. Ngày xưa, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng hơi thở của ca dao, chúng ta yêu nước chúng ta lắm. Ðiệu ru nào đã ru ta ngủ, vẫn không ngoài ca dao.

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về


Ngày nay, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng thứ khác. Không phải ca dao. Chúng ta bỏ quê hương - quê hương nông nghiệp - tìm chỗ thị thành mà ở, sống theo đuổi văn minh, vật chất tây phương. Chúng ta quên dần, quên hết ca dao. Một ngày nào đó, ca dao sẽ là cái gì kỳ cục mà chúng ta không thèm biết đến. Nếu chúng ta là nhà văn, nhà thi sĩ thì ca dao sẽ thành lạc hậu. cài trữ tình hôm qua đâu bằng cái trữ tình hôm nay. Chúng ta đọc tiểu thuyết Anh Mỹ, tiểu thuyết Pháp và, nếu cần, ta mượn cốt truyện của ngoại quốc làm cốt truyện của mình, có phải ta nghìn lần lãng mạn hơn ca dao vớ vẩn. Bây giờ, chúng ta mới, mới, mới và mới; chúng ta dứt khoát với quá khứ nó ràng buộc ta với quê hương ta. Tình tự dân tộc nó nhỏ bé quá, chúng ta tiến lên hàng vĩ đại tình tự với con người. Chúng ta định tình tự với thế giới, với con người bằng cái gì? Ở những cuốn tiểu thuyết gầy ốm, cóp nhặt tư tưởng của thiên hạ bừa bãi à? Cũng đuợc, loài người khó tính lắm, muốn đọc sách của chúng ta dịch sang tiếng nưóc ngoài thì họ mới hiểu chúng ta tình tự với họ với con người. Không, chúng ta không dại thế. Chúng ta chỉ thích mới, mới, mới và mới thôi. Chúng ta ra khỏi hàng ngũ những người lạc hậu và tình tự dân tộc. Mới mà không biết mới về đâu, đó là cuộc phiêu lưu không tưởng. Chúng ta chẳng hiểu đi tới bờ bến mới nào, có điều đường về quê hương đã bít lối.
Tôi không dám nhập vào cái chúng-ta-to-lớn quá. Vậy xin nhận cái tôi nhỏ bé, lạc hậu. Cái tôi nhỏ bé thách cái chúng-ta-to-lớn biểu diễn sáu câu ca dao "tán gái" sau đây:

Hôm qua tát nước dầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.
Em được cho chúng anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh không có mẹ già chưa khâu.


và bốn câu ca dao lãng mạn:

Lạy trời mưa nắng phải thì
Nơi thì cày rộng nơi thì bừa sâu
Công lao chảng quản lâu đâu
Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng


Người nông dân lạy trời nắng mưa hòa thuận để cầy bừa cho dễ dàng. Công lao không lâu đâu. Cứ hy vọng "ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng." Thi sĩ ca dao mới lãng mạn biết chừng nào: Nước bạc ngày nay, cơm vàng ngày sau. Tuyệt vời cách ví von như thế. Tôi nghĩ rằng thi sĩ bác học có nghĩ cả đời cũng không làm nổi câu thơ thứ tư của thi sĩ ca dao.

Người ta đi cấy lấy công
Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề
Trông trời trông đất trông mây
Trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trròi yên biển lặng mới yên tấm lòng.


Nỗi đau khổ của nông dân kể lể đau lòng quá. Từ trong nỗi khổ vẫn bùng lên cơn mơ mộng "Trông cho chân cứng đá mềm"  tôi dám cam đoan rằng, trên thế giới, không có đại thi hào nào mơ mộng như người nông dân Việt Nam. "Trông cho chân cứng đá mềm" là giòng suối mơ mộng của thi sĩ ca dao. Giòng suối róc rách chảy đến vô tận. Chúng-ta-to-lớn thường mô tả cảnh bắt quân dịch và đầy ra mãi vùng I chiến thuật phục vụ. Những cảnh ấy, chúng-ta-to-lớn phải viết nhiều trang. ca dao có bốn câu, thưà xúc động.

Một tay thì cắp hoả mai
Một tay xách giáo quan sai xuống thuyền
Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa

Người quân dịch trấn thủ phương xa. Chúng-ta-to lớn sẽ nằm một chỗ, tuởng tượng sự cô đơn và nỗi thống khổ của người lính quân dịch hết một cuốn. Ca dao có bảy câu, bát ngát cô đơn.

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẳn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Nhũng giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nuớc giếng trong con cá nó vẫy vùng

Những đại văn hào, đại thi hào không thèm nghe ca dao nữa. Tôi xin lỗi các vị, nói chuyện ca dao với người khác. Trong cuốn Anthologie de la littérature populaire du Viet Nam, tác giả đã dịch một số ca dao. Thử mời các bạn thưởng ngoạn ca dao... Pháp văn:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vồn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công
Bao giờ cây luá còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn

Ô mon buffle! Viens dans la rixière et labourons
Labourons et repiquons
Comme nos ancêtres paysans
Ni toi, ni moi
N'épargnons notre peine
Tant que les pallntes ne portent les épis
Il y aura toujours
Quelques brins d'herbe dans le champ
Pour que tu les manges, ô mon buffles!

Lỗ muĩ em những tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Ðêm nằm thì ngáy o o
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Ði chợ thì hay ăn quà
Chồng yêu chồng bảo ăn quà đỡ cơm
Trên đầu những rác cùng rơm
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu

Dis huit poils rugueux
Lui sortent des narines
Le mari l'aime
Il dit:
-"C'est un présent du Ciel:
La barbe du dragon"!
Un ronflement, la nuit,
Morte avec son sommeil
Le mari l'aime
Il dit"
Pourquoi s'en plaindre"?
S'en va-t-elle au marché
Elled grignote sans arrêt
Le mari l'aime
Il dit:
-"Qu'importe! A la maison
Elle mangera moins de riz".
Ses cheveus ne sont plus
Sue paille desséchée
Le mari l'aime
Il dit:
-"Sa tête est couronnée De fleurs au doux parfum!"

Tôi trích hai bài thôi và ở trong sách Anthologie de la littérature du Viet Nam không có bài ca dao tiếng Việt in kèm với bản dịch Pháp ngữ. Thành ra, người Việt Nam không hề biết ca dao mà đọc ca dao dịch sẽ chẳng thấy một hình ảnh nào lạ trong ca dao. Họ sẽ thất vọng ngay. Ngưòi ngoại quốc cũng thế. Nước ta ở một tình trạng nan giải. Quê hương nghèo nàn, nô lệ nhiều năm, nước nhỏ bé, ngôn ngữ ngoài phạm vi nước mình thì chả ai thèm biết tới, cho nên, những caí hay đẹp của ta như ca dao, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du ... , dịch sang ngoại ngữ găp nghiều trở ngại. Mà chính ra ca dao không thể dịch, không nên dịch. Chắc rằng, cũng biết gặp khó khăn nên ông Hữu Ngọc cứ dịch, vì lòng yêu nước của ông thúc dục ông.
Tôi xin thành thực hoan nghênh ông, nhưng cũng thành thực phản đối khi ông nhắm ca dao vào mục đích tuyên truyền. 17 bài ca dao ông dịch giới thiệu "Ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến". Ca dao là nghệ thuật. Nghệ thuật khác với kỹ thuật. Cách mạng tạo ra kỹ thuật cho con người, nhưng không thể, không bao giờ thể, tạo ra nghệ thuật cho con người. Trời cho con người nghệ thuật. Mọi sự rung động từ trái tim con người thoát ra. Cách mạng có làm cho con người rung động hay không, chứ không bắt con người phải rung động. Thi sĩ ca dao là nghệ sĩ đích thực. Nói thật đúng, thi sĩ ca dao của nguời là chính ca dao. Tôi sợ rằng ca dao "ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến" là ngụy ca dao.
Ca dao đã mất hút từ hơn 100 năm nay. Không phải các thi sĩ giết chết ca dao bằng những tập thơ ấn loát đẹp và phổ biến về tận làng mạc xa xôi. Chẳng ai giết nổi ca dao khi nó còn sống và cần sống. Chẳng ai cứu nổi ca dao khi nó muốn chết và cần chết. Ði một chu kỳ ngót bốn ngàn năm, ca dao đã sáng tác thừa thãi cho dân tộc sử dụng. Ðã đến lúc ca dao chất dứt bổn phận của nó. Văn học dân gian cũng thế. Cái tối cần thiết hôm nay là tìm tòi ca dao còn ẩn mặt tại nông thôn. Tôi chưa biết ca dao miền Trung. Tôi chưa biết ca dao miền Nam. Tôi chỉ biết rất ít ca dao miền Bắc. Bây giờ, nếu bỏ ra 5 năm, tung những người yêu ca dao đi khắp ba miền đất nước tìm kiếm ca dao, tôi tin rằng mỗi miền sẽ đóng góp cho đất nước hàng chục pho sách. Bấy giờ, chúng ta giàu có ca dao. Bấy giờ, không cần ai làm ca dao nữa. Tất cả đều có trong ca dao. Nói thêm nữa bằng thừa. Ca dao tự nó biến thành nền móng và khi nó cảm thấy nền móng vững chắc rồi, ta cứ việc xây văn chương bác học. Và tiểu thuyết, thi ca cứ vất lên cái nền móng đó. Hay thì ở lại. Dở thì ném đi. Ca dao đã biết trước chúng ta, đã ly biệt hơn 100 năm nay. Thế mà ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze cải táng ca dao, lôi xác chết bảo rằng "ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến". Hai cuộc kháng chiến là chống Pháp giữ nước và chống Mỹ cứu nước.
Cứ dở hết ca dao ra mà coi, 1000 năm nô lệ giặc Tàu, có câu nào nói về Tàu, nói về quân xâm lăng tàn ác nhất loài người không? Bảo là 1000 năm ấy không có kháng chiến ư? Hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Bố Cái Ðại vương ... đã khởi nghĩa đánh nòi Hán đấy. Sử gia Lê văn Hưu viết: "Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho dến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng"! Ðến 100 năm nô lệ Tây, ca dao cũng chẳng viết câu nào về quân xâm lược dã man. Bảo là 100 năm ấy không có kháng chiến ư? Chuyện 100 Tây đô hộ, ai cũng biét có kháng chiến hay không kháng chiến.
Cách mạng tháng 8-1945, tôi được đọc bài ngụy ca dao như thế này:

Ðeo hoa chỉ tổ nặng tai
Ðeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng
Làm thân một nước vẻ vang
Ðem vàng giúp nước giàu sang nào tầy
Ðổi vàng lấy súng cối say
Bắn tan giặc Pháp dựng ngày vinh quang

Ông thi sĩ thượng thặng nào đã đẻ ra bài ngụy ca dao quyên vàng của dân chúng cả nước để mua súng cối say bắn tan giặc Pháp, nhưng không mua, mà đem cống Tiêu Văn để nó mang quân Tàu phù về Trung Hoa? Cách mạng tháng 8 biết ông thi sĩ ấy. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở hậu phương, tôi đã thuộc những câu ngụy ca dao dưới đây:

Thực dân hỡi thỡi thực dân
Ðàng nào thì cũng một lần về thôi
Việt Nam của Việt Nam rồi
Cướp làm sao nổi đất người Việt Nam

Diễn tả cảnh dã man của Pháp, hai câu ngụy ca dao lên tiếng:

Trẻ thơ đã tội tình gì
Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân

Một bài nữa tả anh chồng trách vợ:

Ðêm nay anh đi đánh Tây
Cửa nhà cậy có bu mày trông coi
Làm sao khóc lóc lôi thôi
Có vợ ai tồi như thế hay không

Tôi nói ca dao đã biệt ly hơn 100 năm, kể tư khi thời đại đánh mốc bằng hai câu chua xót:

Ngày xưa ta cũng có vua
Bây giờ mất nước, bonjour Toàn Quyền

Nhưng không có gì tuyệt đối cả, cũng còn vài người tương tư ca dao, thỉnh thoảng thốt lên lời cay đắng. Câu ca dao cay đắng dưới đây làm trong cách mạng tháng 8 đã 15 tuổi:

Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Cách mạng dùng chế độ gạo cai trị dân còn hơn thực dân dùng roi điện tra tấn con người. Tôi rất thích bốn câu ca dao làm trong cách mạng tháng 9, đuợc 3 tuổi.

Việt Nam dân chủ cộng hòa
Con tôm con tép bò ra biểu tình
Con cá đi lính Việt Minh
Con cua cũng lại ra đình hoan hô

Chỉ có hai câu ca dao là chính ca dao rơi rớt lại. Còn thì rặt ngụy ca dao. Ca dao bay bổng, bay cao, bay xa trên vùng trời Việt Nam. Ca dao nói về tình ái, nói về hạnh phúc, nói về đau khổ, nói về thương yêu, nói về cười cợt, nói về nhân nghĩa... Ca dao không nói về thù hận. Những kẻ cướp nước ta đã có người đuổi chúng và diệt chúng. Ca dao không để ý việc này. Ca dao sống tự nhiên với hạnh phúc và đau khổ. Ca dao cao thượng vô cùng, không oán ghét cả kẻ thù của mình. Ca dao không khen ngợi ai. Không ai có quyền hành bắt ca dao khen mình, Thỉnh thoảng, ca dao mới lên tiếng về thống trị đi quá đà.

Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Ði thì ăn cướp quần chồng sao đang

Dân miền Bắc vốn không ưa gì Tự đức, cảm tình đã trao tặng Quang Trung rồi. Nghĩ đến chuyện đào mả Quang Trung, lấy đầu lâu đái vào, dân đã khinh bỉ Gia Long. Mà việc Tự Ðức cấm đàn bà mặc váy, ca dao chỉ nói nhẹ nhàng. Ca dao không tàn tệ với ai cả. "Ca dao mới" đem tên các lãnh tụ cộng sản ra chửi bới thậm tệ là ngụy ca dao. Ca dao không nịnh bợ người nào. Hai câu dưới đây thổi phồng ông Hồ Chí Minh:

Tháp Mưòi đep nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên bác Hồ


cũng là ngụy ca dao. Vậy thì ca dao "ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến" là ngụy ca dao, phải chăng, thưa ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze!

Tôi viết hơi dài rồi. Phải tìm mấy điệu ca dao làm kết luận bài này mới đuợc. À tốt lắm, tôi lôi con gà, con lợn, con chó, con mèo, con ngựa, con kiến, con tôm, con cua, con cá ra quần chúng nó một phen.
- Kiến tại sao mày kiện củ khoai?
- Vì nó còn sống, lại kềnh càng, cháu ăn không nổi tha về tổ không xong. Cháu tức quá đi kiện nó chơi.
- Củ khoai có nói gì không?
- Nó cứ ì ra. Cháu kiện hoài hủy.
- Mày đem việc không dáng gì đi kiện tụng. Mày ăn nó, nhưng không ăn nổi, lại bày trò kiện nó. Ðáng lẽ, nó phải kiện mày.

Con kiến mà kiện củ khoai
Kiện di kiện lại đã hai năm tròn
Bây giờ kiến đã có con
Củ khoai mọc mậm vẫn còn kiện nhau


- Ngựa, sao mày chăm làm vậy?
- Trời sinh cháu ra, bắt cháu làm việc, bác ạ.
- Mèo, sao mày lười thế?
- Trời sinh cháu ra, muốn cháu làm biếng đấy mà, bác ơi!

Con ngựa đi Bắc về Nam
Hay ăn hay ngủ hay làm hay lo
Con mèo nằm bếp co ro
Biếng ăn, biếng ngủ, biếng lo biếng làm


- Mèo kia, mày muốn dò xét chuột, chứ mày đâu tử tế gì mà hỏi thăm nó có nhà hay không?
- Bác đi guốc trong bụng cháu.
- Rồi sao?
- Nó giả vờ giọng ai rồi xỏ xiên bảo đi mua mắm, mua muối về giỗ cha cháu.

Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi dâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo


- Bống này, mày khỏi củ hành đuợc không?
- Ồ tôm có hành thì cháu cũng có hành nó mới dậy mùi.
- Còn cua thì sao?
- Nó phải giã bằng chày, bác ạ!

Cá bông đi chợ cầu Canh
Con tôm đi trước củ hành theo sau
Con cua lật đật theo hầu
Cái chày rơi xuống vỡ đầu con cua.

- Gà, sao mày khóai lá chanh thế?
- Người sắp giết cháu, bác à. Cháu yêu cầu luộc cháu và cắt lá lá chanh thật nhỏ rắc lên
- Lợn, mày đòi hành chi vậy?
- Kho cháu mà có thiếu hành thì có ra gì! Thịt không hành, canh không mắm mờ lỵ.
- Chó, mày dặn dò gì không?
- Riềng là căn bản đã, bác ạ! Rồi mắm tôm sẽ tính sau. Hu, hu, hu...

Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đúng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng


(sưu tầm)
Z tôi bước đầu sưu tầm đến đây anh em nào có những xâu ca dao nào hay xin post tiếp ..

 Tác giả| Đăng lúc 2-9-2009 22:29:04 | Xem tất
Ca dao về Lao động và các nghề nghiệp



Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp.
Lạyông nắng lên
Cho trẻ con chơi
Cho già bắt rận
Cho tôi đi cày.
***
Tay cầm con dao
Làm sao cho sắc
Để mà dễ cắt
Để mà dễ chặt
Chặt lấy củi cành
Trèo lên rừng xanh
Chạy quanh sườn núi
Một mình thui thủi
Chặt cây chặt củi
Tìm chốn ta ngồi
Ta ngồi gió mát thảnh thơi...
***
Kìa một đàn chim
Ở đâu bay đến?
Ở đâu bay lại?
Con đang cắn trái,
Con đang tha mồi.
Qua lối nọ nó ăn...
Cái con hươu kia
Mày đang ăn lộc,
Lộc vả, lộc sung
Mày thấy không tớ?
Tớ không đuổi mày
Mày qua lối nọ làm chi?
***
Tháng chạp là tháng trồng khoai
Tháng giêng trồng đâu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba thì đậu đã già
Ta đi ta hái về nhà phơi khô
Tháng tư đi tậu trâu bò
Để ta sắm sửa làm mùa tháng năm
Sớm ngày đem lúa ra ngâm
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra
Gánh đi ta ném ruộng ta
Đến khi nêm mạ thì ta nhổ về
Sắp tiền mượn kẻ cấy thuê
Cấy xong thì mới trở về nghỉ ngơi
***
Cỏ lúa đã dọn sạch rồi
Nước ruộng vơi mười còn độ một hai
Ruộng thấp đóng một gầu dai
Ruộng cao thì phải đóng hai gầu sòng
Chờ cho lúa có đòng đòng
Bấy giờ ta sẽ trả công cho người
Bao giờ cho đến tháng mười
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta
Gặt hái ta đem về nhà
Phơi khô, quạt sạch ấy là xong công.
***
Một năm chia mười hai kỳ
Thiếp ngồi thiếp tính khó gì chẳng ra:
Tháng giêng ăn tết ở nhà
Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm
Tháng ba đi bán vải thâm
Tháng tư đi gặt, tháng năm trở về
Tháng sáu em đi buôn bè
Tháng bảy, tháng tám trở về đong ngô.
Chín, mười cắt rạ đồng mùa
Một, chạp vớ được anh đồ dài lưng
Anh ăn rồi anh lại nằm
Làm cho thiếp phải quanh năm lo phiền.
Chẳng thà mấy chú lực điền
Gạo bồ, thóc đống còn phiền nỗi chi?
                ***
Khéo thay công việc nhà quê
Quanh năm khó nhọc dám hề khoan thai.
Tháng chạp thời mắc trồng khoai
Tháng giêng trồng đâu, tháng hai trồng cà
Tháng ba cày vỡ ruộng ra
Tháng tư bắc mạ thuận hòa mọi nơi
Tháng năm gặt hái vừa rồi,
Bước sang tháng sáu nước trôi đầy đồng
Nhà nhà, vợ vợ, chồng chồng
Đi làm ngoài đồng sá kể cơm trưa
Tháng sáu tháng bảy đang vừa
Vun trồng giống lúa, bỏ chừa cỏ tranh.
***
Tháng tám lúa trỗ đã đành
Tháng mười cắt hái cho nhanh kịp người.
Khó khăn làm mấy tháng trời
Lại còn mưa nắng bất thời chờ trông.
Cắt rồi nộp thuế nhà công
Từ rày mới được yên lòng ấm no.
***
Cuối thu trồng cải, trồng cần
Ăn đong sáu tháng, cuối xuân thì tàn
Bấy giờ rau muống đã lan
Lại ăn cho đến thu tàn thì thôi.
Mùa nào thức ấy lần hồi
Lọ là phải chuốc của người đâu xa.
          ***
Quanh năm cấy hái, cầy bừa
Vụ chiêm thì hạ, vụ mùa thì đông
Ai về nhắn chị em cùng
Muốn cho sung sướng nghề nông phải cần
Dưa gang một, chạp thì trồng
Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo
Tháng hai đi tậu trâu bò
Cày đất cho ải, mạ mùa ta gieo.
***
Tháng sáu mà cấy mạ già
Thà rằng công ấy ở nhà ẵm con
Tháng chạp mà cấy mạ non
Thà rằng công ấy ẵm con ở nhà.

Nửa đêm trăng sáng mây cao
Triệu trời nắng gắt, nắng gào chẳng sai
Lúa khô nước cạn ai ơi!
Rủ nhau tát nước, chờ trời còn lâu.
***
Trên trời có ông sao Thần (1)
Bốn mùa chỉ lối cho dân ăn làm.
Sang xuân Thần cúi lom khom
Là mùa trồng đậu, dân làng biết chăng?
Bước sang tháng chín rõ trăng
Lưng thần hơi đứng là đang gặt mùa.
Tua rua đi rắc mạ mùa (2)
Tiểu thử đi bừa, cầy ruộng rất sâu (3)
Hàn lộ lúa trổ bằng đầu (4)
Lập đông ta quyết về mau gặt mùa. (5)

(1). Sao Thần: chòm sao Thần nông.
(2). Tua rua: chòm sao nhỏ có 7 ngôi liền nhau. Khi tua rua mọc gọi là tiết mang hiện hoặc mang chủng. Tua rua mọc vào đầu tháng sáu dương lịch.
(3). Tiểu thử: đầu tháng 7.
(4). Hàn lộ: đầu tháng 10.
(5). Lập đông: đầu tháng 11.
***

Tua rua một tháng mười ngày
Cấy trốc luống cầy cũng được lúa xơi
Ra đường thấy vỏ thị rơi
Tua rua quặt lại thì thôi cấy mùa.
Tua rua thì mặc tua rua
Mạ già, ruộng ngấu không thua bạn điền.
Đói thì ăn ráy, ăn khoai
chớ thấy lúa trỗ tháng hai mà mừng (1)

(1). Lúa trỗ sớm sẽ gặp hạn, gặp rét.

Bao giờ mang hiện đến ngày
Cầy bừa cho chín, mạ này đem gieo

Gỗ kiền anh để đóng cầy
Gỗ lim, gỗ sến anh nay đóng bừa
Răng bừa tám cái còn thưa
Lưỡi cầy tám tấc đã vừa luống to
Muốn cho lúa mẩy, bông to
Cầy sâu, bừa kỹ, phân gio cho nhiều.

Rủ nhau đi cấy đi cầy
Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa.
***
Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.
Ai ơi! bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!

Rạng ngày vác cuốc ra đồng
Tay cầm mồi lửa, tay dòng thừng trâu.
Ruộng đầm nước cả, bùn sâu
Suốt ngày cùng với con trâu đi cày.

Việc làm chẳng quản nắng mưa
Cơm ăn đắp đổi, muối dưa qua ngày!
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Biết công kẻ cấy, người cày mấy nao!
***
Văn chương phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ học cày cho xong!
Sớm ngày vác cuốc thăm đồng
Hết nước thì lấy gầu sòng tát lên
Hết mạ ta lại quẩy thêm,
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong.
Nữa mai lúa chín đầy đồng
Gặt về, đập, sẩy, bõ công cấy cày.

Ơn trời mưa nắng phải thì
Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.
Công lênh chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Ai ơi! chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu.
***
Mặt trời tang tảng rạng đông
Chàng ơi, trở dậy ra đồng kẻo trưa!
Phận hèn bao quản nắng mưa
Cày sâu, bừa kỹ, được mùa có phen.

Nhờ trời mưa gió thuận hòa
Nào cày, nào cấy, trẻ gìa đua nhau
Chim: gà, cá: nhệnh, cảnh: cau,
Mùa nào thức ấy giữ mầu quê hương.

Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm mai.
***
Trâu ơi, ta bảo trâu này!
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta
Cấy cày vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy, ai mà quản công!
Bao giờ cây lúa còn bông
Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Nghé ơi, ta bảo nghé này,
nghé ăn cho béo, nghé cày cho sâu
Ở đời khôn khéo chi đâu
Chẳng qua cũng chỉ hơn nhau chữ cần.

Cha chài, mẹ lưới, con câu
Con trai tát nước, nàng dâu đi mò.
***
Nom ra ngoài bể mù mờ
Thấy anh câu đục, câu dù mà thương.

Nàng đứng ở đó mà chi
Nàng về kẻ bể mà đi kéo rùng
Nhà tôi nghề giã, nghề sông
Lặng thì tôm cá đầy trong, đầy ngoài.
Cá trắng cho chí cá khoai
Còn như cá lẹp, cá mai cũng nhiều.
Quý hồ nàng có lòng yêu
Cái đường đi lại còn nhiều khi ta.
Nàng về thưa với ông, bà
Có cho nàng lấy chồng xa hay đừng?
***
Con ơi nhớ lấy lời cha
Mồng năm tháng chín thật là bão rươi.
Bao giờ cho đến tháng mười
Thì con vào lộng ra khơi mặc lòng.

Những người đi biển làm nghề
Thấy dòng nước nóng thì về đừng đi
Sóng lừng, bụng biển ầm ì
Bão mưa ta tránh chớ hề ra khơi.

Lênh đênh chiếc giã giữa vời
Chiếc thuyền mành vô cửa biết mấy đời gặp nhau.
***
Nước chảy xuôi, thuyền anh trôi ngược
Anh chống không được, anh bỏ sào xuôi
Sào xuôi thuyền cũng trôi xuôi
Khúc sông bỏ vắng để người sầu riêng
Người sầu riêng cơm trắng không ăn
Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm.

Câu cá cá chẳng ăn mồi
Đừng câu mà mệt, đừng ngồi mà trưa.
Cần câu bạc, cột chạc dây tơ
Sáng trăng không nhởi, trăng mờ không  câu.
Sông sâu mà biển cũng sâu
Muốn ăn cá lớn dong câu cho dài.
***
Anh đây lên thác, xuống ghềnh
Thuyền nan đã trải, thuyền mành thử chơi
Đi cho khắp bốn phương trời
Cho trần biết mặt, cho đời biết tên.

Muốn ăn măng trúc, măng giang
Măng tre, măng nứa, cơm lam thì chèo (1)
Ngược xuôi lên thác, xuống đèo
Chim kêu bên nọ, vượn trèo bên kia.

Tiếc công lên thác, xuống ghềnh.
Tay chèo, tay chống, một mình nhờ ai?
Bây giờ thở vắn than dài
Ngỡ rằng hò hẹn ai hay hẹn hò.

(1). Cơm lam: cơm nấu bằng cách đổ gạo và nước vào ống nứa tươi, nút kỹ bằng lá rồi chất lên lửa đốt.
***
Giỏi giang chớ vội khoe tài
Sông sâu sào vắn (ngắn), bể trời mênh mông
Nước to, sóng cả khôn chừng
Đã vào gian hiểm xin đừng non tay.

Tằm chăn ba lứa thuận hòa
Tiền dư, thóc tích giữa nhà cao sang.

Con tằm nó ăn lá dâu
Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò.

Nuôi tằm cần phải có dâu
Muốn cho dâu tốt phải mau vun trồng
Vườn thì cuốc rãnh thong dong
Cách nhau hai thước đặt hông cho dày
Giống dâu ưa nước xưa nay
Những khi ngập hết thì cây cũng già.
***
Trời mưa lác đác ruộng dâu
Cái nón đội đầu, cái thúng cắp tay
Bước chân xuống hái dâu này
Nuôi tằm cho lớn mong ngày ươm tơ
Thương em chút phận ngây thơ
Lầm than đã trải, nắng mưa đã từng
Xa xôi ai có tỏ chừng
Gian nan, tân khổ ta đừng quên nhau.

Hôm qua dệt cửi thoi vàng      
Sực nhớ đến chàng, cửi lại dừng thoi
Cửi rầu, cửi tủi chàng ơi
Ngọn đèn sáng tỏ bóng người đằng xa...
***
Em về dệt cửi trên khung
Để anh đọc sách cùng chung một đèn
Vải em em bán lấy tiền
Em mua lụa liền may áo cho anh
Trong thì lót tím, lót xanh
Ngoài thêu đôi bướm lượn cành phù dung.

Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài.
Nhất thương là cái hoa lài
Nhì thương ai đó áo dài ấm thẩn.
Gặp người sao có một lần
Để em thương nhớ tần ngần suốt năm.
***
Anh làm thợ mộc Thanh Hoa
Làm cầu, làm quán, làm nhà khéo thay:
Lựa cột anh dựng đòn tay
Bào trơn, đóng bén nó ngay một bề.
Bốn cửa anh chạm bốn dê
- Bốn con dê đực chầu về tổ tông.
Bốn cửa anh chạm bốn rồng,
Trên thì rồng ấp, dưới thì rồng leo
Bốn cửa anh chạm bốn mèo
Con thì bắt chuột, con leo xà nhà.
Bốn cửa anh chạm bốn gà
Đêm thì nó gáy nhà ra làm vườn.
***
Bốn cửa anh chạm bốn lươn
Con thì thắt khúc, con trườn ra xa
Bốn cửa anh chạm bốn hoa
Trên là hoa sói, dưới là hoa sen.
Bốn cửa anh chạm bốn đèn
Một đèn dệt cửi, một đèn quay tơ,
Một đèn đọc sách, ngâm thơ
Một đèn anh để đợi chờ nàng đây.

Quê anh ngày tám tháng ba
Quay vào làm rọ, quay ra đan lờ
Nhờ trời mưa thuận, gió hòa
Lờ, rọ bán được, cảnh nhà thêm vui.
***
Một mình vừa chẻ, vừa đan
Lỗi lầm thì chịu, phàn nàn cùng ai

Mài dừa đạp cám cho nhanh
Ép dầu mà chải tóc anh, tóc nàng
Mài dừa dưới ánh trăng vàng,
Ép dầu mà chải tóc nàng, tóc anh.

Lấy anh thì sướng hơn vua
Anh đi xúc giậm được cua kềnh càng
Đem về nấu nấu, rang rang
Chồng chan, vợ húp lại càng hơn vua.

Tháng tư cơm gói ra Hòn (1)
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn hang Mai.

(1). Hòn: tức là hòn Chông ở tỉnh Kiên Giang.
***
Tháng giêng là tháng ăn chơi
Anh ra nằm bãi (1) hòn Khơi một mình (2)

Tre già anh để pha nan
Lớn đan nong, né bé đan giần sàng
Gốc thì anh để kê giường
Ngọn ngành anh để cắm giàn trầu, dưa.

Võng này đan sợi đay già
Em đi kén võng đã ba năm chầy
Đôi ta chung mẹ, chung thầy
Đêm trăng chung võng vơi đầy thủy chung.

(1). Đi nằm bãi: ra chờ đợi ngoài bãi biển chờ đồi mồi bò lên để bắt.
(2). Hòn Khơi: ở Hà Tiên.
***
Vạn Vân có bến Thổ Hà (1)
Vạn Vân nấu rượu, Thổ Hà nung vôi
Nghĩ rằng đá nát thì thôi
Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.

Chăn đơn, gối chiếc lạnh lùng
Nửa mình thì đắp, nửa phòng tình nhân.

Em về dọn quán bán hàng
Để anh là khách đi đàng trú chân.

Trắng da là bởi phấn dồi
Da đen là bởi em ngồi chợ trưa.

Bán hàng thì bán sớm mai
Chợ  trưa người vãn còn nài làm chi.
***
Tin nhau buôn bán cùng nhau
Thiệt hơn, hơn thiệt, trước sau như lời
Hay gì lừa đảo kiếm lời
Một nhà ăn uống, tội trời riêng mang.
Theo chi những thói gian tham
Pha phôi thực giả tìm đường dối nhau
Của phi nghĩa có giầu đâu
Ở cho ngay thật giầu sau mới bền.

Em ơi chớ lấy quân buôn
Khi vui nó ở, khi buồn nó đi
***
Nhỏ còn thơ dại biết chi
Lớn rồi đi học, học thì phải siêng
Theo đòi cũng thể bút nghiên
Thua em, kém chị cũng nên hổ mình.

Cả làng có một thầy đồ
Dạy học thì ít, bắt cua thì nhiều
Thương thầy trò cũng muốn theo
Trò sợ thầy nghèo bán cả trò đi.

Cha mẹ giầu con thong thả
Cha mẹ nghèo con vất vả, gian nan.
Sớm mai lên núi đốt than
Chiều về xuống biển, đào hang bắt còng.
           ***
Chợ Thốt Nốt có lập đài khán võ (1)
Chợ Cờ Đổ tuy nhỏ mà đông (2)
Thấy em buôn bán anh chẳng vừa lòng
Để anh làm mướn kiếm từng đồng nuôi em.

Anh về ngoài Huế thắt rế tai bèo
Gửi vô em bán đỡ nghèo nuôi anh

Người ta bán vạn buôn ngàn
Em đây làm giấy cơ hàn vẫn tươi.
Dám xin ai đó chớ cười
Vì em làm giấy cho người viết thơ.

(1), (2). Thốt Nốt, Cờ Đổ: thuộc tỉnh Hậu Giang.
***
Giã nay rồi lại giã mai
Đôi chân tê mỏi, dó ơi vì mày
Seo đêm rồi lại seo ngày
Đôi tay nhức buốt vì mày giấy ơi.

Hỡi anh làm thợ nơi nao
Để em gánh đục, gánh bào đi theo.

Lấy chồng thợ mộc sướng sao
Mạt cưa rấm bếp, vỏ bào nấu cơm
Vỏ bào còn nỏ hơn rơm
Mạt cưa rấm bếp còn thơm hơn trầm.
***
Muốn ăn cơm trắng, cá thèn
Thì về Đa Bút đi rèn với anh (1)
Một ngày ba bữa cơm canh
Tối về quạt mát cho anh ngồi rèn.

Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi chẻ lạt cho anh chắp thừng.

Hoài thân lấy chú thợ khay(2)
Cò cưa, ký quéc cả ngày cơm không.

Nhà em mả táng hàm rồng
Thì em mới lấy được chồng thợ khay

(1). Đa Bút: một thôn ở đông nam huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa
(2). Thợ khay: thợ khảm

(St)
Đăng lúc 4-1-2010 02:24:31 | Xem tất
Chúc bạn vui vẻ. Cám ơn rất rất nhiều for sharing.
Bạn phải đăng nhập mới được đăng bài Đăng nhập | Register

Quy tắc điểm

Phòng tối|iPhone|Archiver|G+|Youtube|Facebook|Twitter|Contact| Netdepviet.org

GMT+7, 10-5-2021 12:13 PM , Processed in 0.081239 second(s), 17 queries .

Powered by NDV Group X3.2

© 2006-2018 Contents Published by all members

Trả lời nhanh Lên trên Trở lại danh sách